Hotline

0911 141 816

Tour du lich pho co Hoi An
du lịch Huế
du lịch đà nẵng
tour sơn trà - phố cổ hội an 1 ngày
Du lịch Đà Nẵng
tour du lich ba na
Cầu rồng Đà Nẵng

Trận Đà Nẵng 1858 - 1860: Chiến thắng lớn đầu tiên và duy nhất của nhà Nguyễn trước liên quân Pháp - Tây Ban Nha (Phần 2)

Trận Đà Nẵng 1858 - 1860: Chiến thắng lớn đầu tiên và duy nhất của nhà Nguyễn trước liên quân Pháp - Tây Ban Nha (Phần 2)

Tiếp theo phần 1

3. GIAI ĐOẠN GENOUILLY ĐEM QUÂN TRỞ LẠI ĐÀ NẴNG ( 15-4 ĐẾN 1-11-1859).

Trận đánh ngày 8-5-1859

Sau khi chiếm được thành Gia Định và đã sắp đặt mọi việc xong xuôi, thuận theo mùa gió đông-nam, Genouilly đem quân trở lại Đà Nẵng và đến nơi vào ngày 15-4-1859.

Năm ngày sau, viên tư lệnh Pháp tung quân qua tả ngạn, đánh lấy thành Điện Hải, đặt hẳn ở đây một căn cứ hỏa lực gồm năm khẩu đại bác cùng quân lính đồn trú bảo vệ. Nhưng đó mới chỉ là trận thăm dò sau mấy tháng vắng mặt, nhằm chuẩn bị cho một trận đánh khác, lớn hơn. Ngày 8-5-1859, một cuộc tấn công qui mô được tung vào phòng tuyến của Nguyễn Tri Phương, một phòng tuyến dài hơn 3km, chạy từ Điện Hải đến Nại Hiên. Liên quân Pháp-Tây chia làm ba cánh:

trận đà nẵng 1858

- Cánh phải do đại tá Reybaud chỉ huy, gồm 750 quân, trong đó, toán quân Tây Ban Nha do thiếu tá Canovas điều khiển. Nhiệm vụ của cánh này là đương đầu với lực lượng Việt Nam chận tàu Pháp ngược sông Hàn;

- Cánh trái do đại tá Faucon chỉ huy, có 425 quân, gồm cả lính Pháp và Tây Ban Nha, giữ nhiệm vụ đánh vào các đồn lũy phía tây nam;

- Trung quân là lực lượng trừ bị, có nhiệm vụ tiếp ứng cho cả hai cánh phải và trái khi cần, do đại tá Tây Ban Nha Lanzarote chỉ huy. Genouilly đi theo cánh quân này.

Từ sáng sớm, súng đại bác trên các tàu chiến đậu trong vịnh hiệp cùng số đại bác của căn cứ hỏa lực Điện Hải đã pháo dữ dội xuống phòng tuyến Việt Nam. Súng lớn của quân Việt cũng cố gắng bắn trả nhưng hiệu quả sát hại không được mấy. Tiền pháo hậu xung, súng lớn mở đường cho 9 tàu chiến và 20 giang thuyền ngược sông Hàn đưa cả ba cánh quân đổ bộ, tấn công thẳng vào phòng tuyến quân Việt.

Dưới cái nắng gay gắt của mùa hè, dù đang còn buổi sáng, quân đổ bộ chia làm hai cánh tấn công theo thế gọng kìm. Cánh quân của Reybaud đánh từ hướng biển vào, nhắm vào các đồn Du Xuyên, Hải Châu, rồi tiến về Thạc Gián, Phước Ninh. Còn cánh của Faucon thì đánh Thạc Gián, Phước Ninh rồi tiến chếch về phía biển để bắt tay với quân của Reybaud. Trung quân của Lanzarote gồm những tay súng thiện xạ, lúc thì tiến qua trái giúp Faucon, lúc qua phải giúp Reybaud.

Liên quân vừa tiến vừa bắn xối xả, vượt qua các hào cắm chông tre, áp sát các lũy đất. Quân Việt cũng dựa vào lũy đất bắn trả nhưng hỏa lực kém quá nên đương cự rất khó khăn. Hiệp quản Phan Hữu Điểm trúng đạn chết ngay tại trận. Nguyễn Tri Phương liệu thế không thể nào chống giữ được, liền ra lệnh bỏ phòng tuyến thứ nhất, rút về cố thủ phòng tuyến thứ hai, gồm các đồn Liên Trì, Nghi Xuân và Nại Hiên, được che chở bằng một hệ thống hào lũy khá vững vàng. Toàn thể được lệnh tử chiến, không cho quân Pháp tiến sâu vào nội địa cũng như tiến ra Huế.

Đến hơn 10 giờ sáng thì trận đánh kết thúc. Theo các tài liệu của Pháp thì liên quân bị 3 chết, 6 thương tích; còn phía Việt Nam có đến 700 quân chết tại trận trong tổng số 10,000 quân tham dự trận đánh. Tổng kết, trong ngày hôm đó, liên quân Pháp Tây đã chiếm được 20 cứ điểm phòng ngự của Việt Nam, gồm các đồn Du Xuyên, Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, các pháo đài và công sự phụ thuộc khác, chưa kể 54 súng lớn bị tịch thu.

Tin đại bại đưa về Kinh, vua Tự Đức không có kế sách nào khác là ra lệnh cho Nguyễn Tri Phương khích lệ tướng sĩ, liệu thế ăn được thì đánh một trận báo thù, còn như không thắng được thì cố giữ vững, đừng để lòng quân rối loạn.

Những khó khăn của liên quân Pháp - Tây Ban Nha và cuộc hòa hoãn tạm thời

Về phía quân viễn chinh, chiến thắng ngày 8-5-1859 quả có đem lại lợi ích quân sự cho họ, đó là sự chủ động chiến trường, nới rộng vòng đai an ninh qua phía tả ngạn, nhưng tiếp theo đó thời tiết mùa hè nóng bức ở Đà Nẵng đã giáng xuống trên đầu liên quân một đại họa còn hơn cả súng đạn. Trong hai tháng 6 và 7 năm 1859, một trận dịch tả đã bộc phát dữ dội trong căn cứ làm số quân Pháp và Tây Ban Nha chết và bệnh tăng lên vùn vụt. Hai đại úy, Loubière và Gascon Cadubon đã bị hại dưới bàn tay thần ôn dịch. Trong vòng một tháng (15-6 đến 18-7), tiểu đoàn 3 bị chết 136 người. Từ khi đặt chân lên Đà Nẵng, chưa có trận đánh nào gây tổn thất cho quân viễn chinh lớn lao đến như thế.

Trước tình trạng bi đát như vậy, dựa theo tinh thần mềm dẽo của huấn lệnh ngày 25-11-1857 và 20-6-1859, Rigault de Genouilly đã đề nghị với Triều đình Huế cử người nghị hòa. Yêu sách của Genouilly đưa ra rất “giản dị”, chỉ gồm có ba khoản: tự do truyền giáo, tự do thương mãi và được chiếm hữu một lãnh thổ để bảo đảm sự thi hành hòa ước. Tuy nhiên, việc nghị hòa với ba yêu sách này đã gây bối rối cho vua tôi nhà Nguyễn chẳng kém gì tàu đồng súng trận.

Bấy giờ vua Tự Đức - vốn không phải là người quyết đoán - không biết tính sao, nên đem vấn đề ra cho triều đình thảo luận (đình nghị). Thế là triều đình trải qua một phen trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Đại khái, các quan chia làm ba nhóm với lập trường thật là đối chọi:

- Nhóm Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Lưu Lượng cho rằng giảng hòa thì hay hơn, nhưng nên cố thủ cho vững rồi hãy nói chuyện hòa.

- Nhóm Trần Văn Trung, Trương Quốc Dụng, Tống Phước Minh, Lâm Duy Hiệp, Phan Huy Vịnh ... cho rằng quân Thanh đương đầu mà còn không hơn được, vậy thì ta cũng khó thắng, thế nên nay hãy thủ cho vững, “lấy cách chủ đãi khách mà đối phó để làm kế trì cửu rồi sau sẽ tùy cơ xử trí.”

- Nhóm Tô Linh, Phạm Hữu Nghị, Trần Văn Vi, Nguyễn Đăng Điều, Lê Hiếu Hữu ... chủ trương đánh tới cùng, “chứ nếu hòa thì bỏ cấm đạo, cho thông thương, họ được dựng nhà thờ, lập phố chợ, trăm điều giảo hiểm sẽ từ chữ hòa mà sinh ra.”

Còn các quan khác thì cũng bàn ra góp vào, nào chiến nào hòa, nhưng chả ông nào đưa ra được một kế sách gì có thể giúp giải quyết vấn đề một cách có lợi mà an toàn cho Việt Nam. Trước mớ luận bàn tơ vò đó, vua Tự Đức đã phải than rằng “Các ngươi biết rằng chiến thủ là khó, không biết rằng hòa lại càng khó hơn”.

Đang khi vua như đứng trước ngã ba đường, chưa biết chọn ngã nào, thì Bùi Quị đi công tác ở Bắc về, thấy tình trạng đó bèn dâng sớ tâu rằng “Đình thần kẻ nói hòa người nói thủ, kẻ bàn chống người bàn chèo, ai giữ ý nấy, như vậy, gặp việc gấp rút sao giúp nhau được. Xin Hoàng thượng độc đoán, tự định qui mô để ai nấy phải theo.” Vua Tự Đức cho là phải, bèn giao cho Nguyễn Tri Phương cầm đầu cuộc thương nghị ở Đà Nẵng.

Cuộc nghị hòa kéo dài trong hai tháng 7 và 8 năm 1859 mà không đi đến một kết quả nào, vì ba yêu sách đơn giản của Genouilly lại là ba điều tối kỵ đối với Triều đình Huế. Trong khi đó, tàu chiến của Pháp đi lại ngoài biển, hễ thấy thuyền Việt Nam thì bắn chìm, hay đốt cháy, bất kể là thuyền nhà nước hay tư nhân. Vua Tự Đức ra lệnh cho Tổng thống Phương phản đối kịch liệt. Phía Pháp có hứa sẽ chấm dứt việc làm đó, nhưng hòa hội không tiến triển chút nào.

Tháng 8 năm 1859, Nguyễn Tư Giản dâng mật sớ, tâu không nên hòa. Vấn đề vốn đã được vua “tự định qui mô” rồi, nay bỗng dưng có người nêu lên, vua không biết nghĩ thế nào, lại đem ra thảo luận với các Cơ Mật Viện đại thần là Trương Đăng Quế và Phan Thanh Giản. Hai ông này trình bày rằng việc nhường đất không thể chấp nhận được, việc thông thương thì đã có lệ từ đầu đời Nhà Nguyễn (nghĩa là được đến buôn bán nhưng không cho lập cơ sở) riêng có việc cấm đạo thì nay xin bỏ để chấm dứt can qua. Vua Tự Đức hình như hỏi để mà hỏi, chứ chẳng có một quyết định dứt khóat nào, chẳng có một chỉ đạo rõ ràng nào, khiến trưởng đoàn thương thuyết là Nguyễn Tri Phương thấy lúng túng trên bàn hội nghị còn hơn trên mặt trận nóng bỏng.

Về phía Pháp, Genouilly thấy hòa hội kéo dài mà không một chút kết quả, cho rằng Việt Nam không có thiện chí, muốn lợi dụng hòa đàm để củng cố lực lượng. Mặt khác, mùa hè cũng sắp qua, kinh nghiệm của một năm viễn chinh cho phép viên tư lệnh Pháp tiên liệu những khó khăn sẽ gặp khi mùa mưa đến vào lúc hòa hội tan vỡ. Bấy giờ có muốn động quân cũng không có lợi.

Vì các lẽ đó, để nắm thế chủ động chiến trường, ngày 7-9-1859 Genouilly chấm dứt thương nghị và tám ngày sau, phóng ra một cuộc tấn công lớn vào phòng tuyến thứ hai của Việt Nam.

Trận đánh ngày 15-9-1859

Người vạch ra kế hoạch cho trận đánh này không phải là Genouilly, mà là thiếu tá Dupré-Déroulède, một sĩ quan công binh nhưng lại giàu khả năng tham mưu và tác chiến. Lực lượng xâm lăng bấy giờ được tăng viện thêm 1734 binh sĩ do hai tàu Dijon và Duchayla chở đến vào tháng 6 năm 1859. Theo đó, liên quân Pháp-Tây chia làm 3 cánh:

- Cánh trái do đại tá Reynaud chỉ huy, gồm các đại đội đổ bộ của Tây Ban Nha và Pháp trên tàu Jorgo Juan, một phân đội công binh và một phân đội pháo binh. Mục tiêu là đồn Nại Hiên án ngữ giữa sông Hàn và các công sự phụ thuộc;

- Cánh phải do đại tá Reybaud chỉ huy, gồm 7 đại đội bộ binh, một phân đội pháo binh và một phân đội công binh. Mục tiêu là đồn Liên Trì và hệ thống phòng thủ phụ thuộc;

- Trung quân gồm hai bộ phận. Một bộ phận toàn lính Tây Ban Nha do đại tá Lanzarote chỉ huy; một bộ phận trừ bị gồm ba đại đội bộ binh do Breschin chỉ huy. Mục tiêu của mũi dùi này là hệ thống phòng thủ gồm những pháo đài nối liền hai đồn Liên Trì và Nại Hiên.

Ngoài ra, còn có những bố trí khác, như sẽ thấy sau.

Về phía Việt Nam, phòng tuyến thứ hai là một hệ thống đồn lũy và công sự kéo dài trên 1500 mét, trong đó có hai căn cứ chủ yếu là Liên Trì và Nại Hiên. Toàn bộ hệ thống này được Pháp xem là rất kiên cố, bỏ xa phòng tuyến thứ nhất mà họ đã đánh chiếm ngày 8-5-1859.

Bốn giờ sáng ngày 15-9, quân Pháp-Tây rời trại xuống tàu. Khi bình minh ló dạng, quân viễn chinh đã sẵn sàng ba mũi, chia nhau tấn công các mục tiêu như kế hoạch đã định. Bọn họ vừa tiến vừa hô khẩu hiệu “Hoàng đế vạn tuế” vừa nổ súng dòn dã dưới sự yểm trợ bằng đại bác từ các tàu chiến và căn cứ Điện Hải.

Cánh phải của đai tá Reybaud đụng độ mạnh với lực lượng phòng thủ ở Liên Trì và Phước Trì. Quân Việt chừng 2,000 đến 3,000 người đã hăng hái xông ra khỏi lũy, giáp chiến với quân xâm lăng. Súng hai bên nổ ác liệt tới nổi Genouilly lo lắng cho số phận cánh quân của Reybaud. Breschin được lệnh tức tốc dẫn ngay hai đại đội Tây Ban Nha tới tiếp ứng. Nhờ vậy, quân viễn chinh dần dần thắng thế, đẩy lui quân Việt vào phòng tuyến, rồi hãm đồn. Cuối cùng, Phạm Thế Hiển và Nguyễn Hiên chống không nổi, phải bỏ cả hai đồn Liên Trì, Phước Trì, kéo tàn quân chạy về hướng Hải Vân, cố giữ con đường ra Huế, ngăn chận cuộc tiến quân của Pháp về kinh đô.

Cánh trái của đại tá Reynaud do đường sông kéo đến tấn công đồn Nại Hiên dưới sự yểm trợ trọng pháo của một đoàn tàu chiến do thiếu tá Liscoat chỉ huy. Vai trò của đoàn tàu này rất quan trọng: vừa pháo yểm trợ cho cuộc tiến quân của Reynaud, vừa bắn đàn áp hai đồn Hóa Khuê và Mỹ Thị (ở hữu ngạn, đối diện Nại Hiên), không cho đổ quân qua cứu ứng. Dưới sức tấn công mãnh liệt như vậy , chẳng bao lâu Nại Hiên cũng chịu chung số phận với Liên Trì. Suất đội Hồ Văn Đa và các Đội trưởng Lê Văn Nghĩa, Đoàn Văn Thức quá khiếp sợ trước hỏa lực hùng hậu của quân viễn chinh, đã bỏ hàng ngũ, tìm đường trốn chạy, làm quân sĩ mất tinh thần, khiến phòng tuyến vỡ nhanh hơn. Nguyễn Tri Phương rút quân về hướng Hải Vân để cùng Phạm Thế Hiển bảo vệ con đường về Huế. Cuộc rút quân của hai lão tướng này hoàn toàn nằm trong kế hoạch dự liệu của viên thiếu tá công binh giàu óc tham mưu. Trong lúc điều quân, Dupré-Déroulède đã phái tàu Laplace đến phục sẵn ở cửa biển Thanh Khê, chờ khi đám tàn quân của hai lão tướng kéo qua liền pháo một trận chận đường, gây thiệt hại thê thảm.

Kết quả trận đánh ngày 15-9, về phía Pháp chỉ có 10 chết và 40 bị thương nặng nhẹ; nhưng qua hôm sau thì số quân vào bệnh viện tăng lên rất cao do hậu quả của cuộc hành quân dưới nắng hè gay gắt của ngày hôm trước. Về phía Việt Nam, chỉ còn làm chủ được hai đồn Hóa Khuê và Mỹ Thị, còn toàn bộ hệ thống phòng thủ ở tả ngạn do Tham tán Phạm Thế Hiển và Tổng thống Quân vụ Nguyễn Tri Phương dày công xây dựng, xếp đặt, đã bị chiếm, bị đốt cháy, bị phá hũy và vô hiệu hóa hoàn toàn.

Nguyễn Tri Phương dâng sớ về Kinh xin chịu tội về trận thảm bại này. Vua Tự Đức, một mặt hạ chiếu cho các quan từ Tri huyện trở lên, hễ ai có kế sách gì hay để cứu nước thì được phép dâng lên, hoặc thấy ai, bất luận quan hay dân, có tài trí đẩy lui được quân Pháp thì cứ mạnh dạn tiến cử; mặt khác, vua hạ lệnh cách lưu Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển, lại sai Phan Thanh Giản đem cờ biển vào Đà Nẵng, họp tướng sĩ lại, chém đầu Hồ Văn Đa, Lê Văn Nghĩa và Đoàn Văn Thức về tội đào ngũ khi đối diện với địch quân, để nêu cao quân luật.

Sau gần một năm nhọc nhằn gian khổ đương đầu với quân xâm lăng, tháng 10 năm 1859 Nguyễn Tri Phương dâng sớ trình bày tất cả thực trạng về tương quan lực lượng giữa ta và Pháp và đề nghị chiến thuật nên theo như sau:

"Người Tây, thủy quân, lục quân nương đở nhau, khó mà hơn họ được. Ta thì thủy chiến đã không tiện, còn về lục chiến thì súng ống họ đã tinh, lại đánh giỏi, quân ta khiếp sợ nên sinh ra bần rùn, nên cũng không thể địch nổi. Nay trong quân thứ, còn 3,200 lính, mà một dãy từ An Sơn đến các đồn Nại Hiên, chỗ chỗ đều quan yếu, nếu đem phòng giữ cho khắp thì không còn lính ra trận nữa. Tình thế như vậy, nói giữ chưa được, nói đánh sao nên? Vậy xin đem binh lực hiện có, phục ở các đồn lũy, dự bị cho nghiêm mà đợi, để làm kế trì cửu, rồi lo trù liệu lương hướng, gặp cơ hội sẽ động, ấy là cớ hoàn toàn vậy.”

Vua Tự Đức đã phê vào tờ sớ: "Sợ địch, thêm lo, không thi thố gì thì làm sao thành công được? Đáng lẽ giao đình nghị để chánh tội danh, nhưng đã cách lưu nên gượng bỏ qua; vậy phải nghĩ trong ba kế chiến, thủ hay hòa, kế nào lui được quân địch thì cứ dùng; đừng mà nói rằng triều đình thiếu người nên phải ngồi đợi chết.”

Phía bại trận, vua tôi lúng túng đã đành, phía thắng trận cũng không có gì phấn khởi hơn vì không đem lại một kết quả tích cực nào về chính trị. Genouilly cảm thấy ngày càng mệt mõi, niềm hăng say chinh phục trong buổi đầu ngày càng tàn lụi theo gánh nặng cuộc chiến. Ngay từ tháng 6 năm 1859 viên tư lệnh Pháp đã đệ đơn xin từ chức. Paris chấp thuận trong thông cảm và cử thiếu tướng Page sang thay.

4. GIAI ĐOẠN PAGE THAY GENOUILLY (1-11-1859 ĐẾN 23-3-1860)

Khi Page mới đến

Thiếu tướng Page xuất thân từ trường Polytechnique năm 1827, cùng khóa với Genouilly, được phong làm Tư lệnh Quân đoàn viễn chinh Trung Quốc ngày 12-8-1859. Ngày 19-10-1859 Page đến Đà nẵng và 12 ngày sau đó, lễ bàn giao chính thức chức vụ Tư lệnh được cử hành. Sau một năm đánh chiếm Đà Nẵng mà không bình định được, không giải quyết được các vấn đề quan thiết về chính trị, thương mãi và tôn giáo, lại hao người tốn của, Paris thấy rằng mục tiêu này không dễ chinh phục như đã tưởng lúc ban đầu. Vì vậy, khi qua nhận chức ở Việt Nam, Page đã nhận được chỉ thị về một cuộc triệt thóai toàn bộ tại Đà Nẵng, chỉ còn giữ lại Sàigòn.

Thế nhưng sau khi nhận chức, Page đã không làm ngay theo chỉ thị đó. Một phần, có lẽ trước mắt binh sĩ và thuộc hạ Page không muốn mang tiếng là một viên tướng chưa đánh đã rút; phần khác, là sự tiếc rẻ công trình xây dựng của quân Pháp ở bán đảo Tiên Sa. Thật vậy, trong vòng có hơn một năm mà Genouilly đã thực hiện ở nơi này thành một thành phố nhỏ của Pháp ở Viễn Đông : nào đồn, pháo đài, nhà kho, bệnh viện, nào nhà thờ, hệ thống dẫn nước, bến tàu, chỗ nuôi gia súc và hạ thịt, xưởng đóng xà- lan, chỗ chứa nước v.v. và cả một hệ thống đường sá lớn nhỏ, ngang dọc, tạo thành một cảnh quang khác lạ với bối cảnh hoang dã ở chung quanh. Đẹp đẽ như thế, qui mô như thế, chưa thất trận, lẽ nào một sớm một chiều đem phá hũy hết rồi rút đi hay sao?

Tuy nhiên lệnh vẫn là lệnh, nghĩa là phải chấp hành, nhưng Page muốn rằng trước khi triệt thóai, cần phải có một hành động ngoạn mục để thị oai với Triều đình Huế, làm cho tỏ rõ uy lực của nước Pháp. Thế là sau 17 ngày cầm quyền, Page phóng ra một trận đánh để giả từ.

Trận đánh đồn Chơn Sảng và pháo đài Định Hải (18-11-1859)

Phòng tuyến hai bên ở Đà Nẵng lúc đó được ghi nhận như sau:

Sau khi thắng lớn vào ngày 15-9, liên quân Pháp-Tây chỉ phá hũy các đồn lũy và công sự phòng thủ rồi rút về giữ căn cứ hỏa lực Điện Hải và vùng bán đảo Tiên Sa. Vì vậy, Nguyễn Tri Phương đã cho quân chiếm lại phòng tuyến thứ hai rồi củng cố thành một phòng tuyến mới, chạy từ Nại Hiên đến Hải Vân.

Có lẽ muốn làm một cái gì mới hơn, khác hơn Genouilly nên Page không đã động gì đến hệ thống phòng thủ này của quân Việt mà lại lấy các đồn và pháo đài ở đèo Hải Vân làm mục tiêu.

Từ 4 giờ sáng ngày 18-11-1859, Page điều động các tàu Némésis, Phlégeton và một tàu của Tây Ban Nha cùng một tàu vận tải khác chở quân đến phía tây bắc vịnh Đà Nẵng, dừng lại ở vị trí trên biển, đối diện với pháo đài Định Hải và đồn Chơn Sảng.

Khi mọi sự đã chuẩn bị đâu vào đấy, Page cho kéo cờ tư lệnh trên soái thuyền Némésis và ra lệnh khai hỏa. Thế là hai bên Việt Pháp mở màn một cuộc đọ súng lớn vang động cả núi rừng và sóng nước. Đặc biệt là quân Pháp bắn đã ghê nhưng quân Việt bắn lại cũng không kém, và xem ra hiệu quả của trận phản pháo này vượt xa các trận đánh trước. Soái thuyền Némésis khinh địch, phơi mình gần các căn cứ phòng ngự, trên cột buồm lại phất phới lá cờ tư lệnh, nên quân Việt ở các pháo đài có thừa khôn ngoan để tập trung hỏa lực vào đó. Kết quả thật là khích lệ: nhiều đạn đại bác đã rơi trúng tàu Némésis, quanh chỗ chỉ huy của Page. Page may mắn không bị gì cả nhưng viên thiếu tá công binh có tài tham mưu là Déroulède (tác giả trận đánh ngày 15-9) bị đạn cắt làm hai, chết liền tại chỗ. Một số binh sĩ khác thương vong.

Dầu sao thì hỏa lực của Pháp cũng mạnh hơn. Sức kháng cự của các pháo đài yếu dần, Page ra lệnh cho tham mưu trưởng M. de Saulx dẫn 300 quân đổ bộ đánh chiếm đồn Chơn Sảng[16]. Trong vòng không đầy một giờ từ khi nổ súng, trận đánh đã kết thúc. Quân Việt chạy bạt vào rừng núi lẩn trốn; quân Pháp phá hũy các công sự và súng ống, đốt cháy kho thuốc súng, lấy đồn Chơn Sảng làm căn cứ , đặt tên là pháo đài Isabelle, án ngữ con đường liên lạc giữa Huế và Đà Nẵng.

Trận đánh này được phóng ra để thỏa mãn lòng tự cao của Page hơn là nhằm thâu đạt một thắng lợi quân sự hay chính trị nào đó. Khi được báo cáo, Paris đã xem đấy là một cuộc tấn công không cần thiết, khiến thiệt mất một sĩ quan giàu khả năng, chưa kể một số quân sĩ khác thương vong. Vì vậy Page bị khiển trách và bị mất chức. Ngày 27-2-1860, tướng Cousin Montauban thay Page trong chức vụ Tư lệnh quân đoàn viễn chinh Trung Quốc và ngày 18-4-1860 Đô đốc Charner thay Page trong chức vụ Tư lệnh hạm đội Pháp tại Viễn Đông. Nhưng đó là chuyện về sau.

Về phía Việt Nam, tin đồn Chơn Sảng bị thất thủ, pháo đài Định Hải bị bắn phá, đường bộ ra Huế qua đèo Hải Vân bị nghẽn vì quân Pháp án ngữ, đã làm cho vua Tự Đức bối rối ra mặt. Thống chế Nguyễn Trọng Thao được cử làm Đề đốc quân vụ, đem quân vào Hải Vân cự đánh. Phải chờ đến tháng 1 năm 1860 con đường bộ này mới thực sự được giải tỏa khi quân của Thống chế Thao từ trên đỉnh đèo đánh xuống , phối hợp cùng quân của Nguyễn Hiên và Trần Đình Túc đóng ở hai đồn Câu Đê và Hóa Ổ (Nam Ô) từ chân đèo phía nam đánh lên mới bứng được quân Pháp ra khỏi nơi chiếm đóng.

Hòa đàm và triệt thoái

Sau trận đánh Chơn Sảng và Định Hải, ngày 21-11-1859 Page vào Sàigòn. Khoảng giữa tháng 12 năm đó, qua các nhà chỉ huy quân sự Việt Nam ở Gia Định, Page đề nghị với Triều đình Huế một cuộc nghị hòa, dựa trên căn bản một dự thảo hiệp ước gồm 11 khoản, trong đó, các khoản chính vẫn là thông thương giao hảo (khoản 1,8 và 11) và tự do truyền giáo (khoản 6, 7, 10). Dự thảo hiệp ước được đệ về Kinh, vua Tự Đức giao cho đình nghị. Thế là một dịp cho những ý kiến xung đột nảy sinh khiến vua Tự Đức càng thêm bối rối, không quyết định được. Vua đem vấn đề hỏi riêng Trương Đăng Quế, một lão thần trong Cơ Mật Viện, rất được vua trọng nễ. Sau khi cân nhắc mọi điều, quan đại thần họ Trương cũng xin hòa. Tuy nhiên, không vì vậy mà vua Tự Đức có một quyết định dứt khóat. Việc thương thuyết với Pháp ở Sàigòn được ủy thác cho Thống đốc quân vụ Tôn Thất Cáp mà không có một chỉ đạo nào rõ rệt, khiến ông ta còn lúng túng hơn ra mặt trận.

Hòa hội được diễn ra trên tàu Primauguet, bỏ neo trên sông Sàigòn. Đại diện bên phía Pháp có hải quân trung tá Aubaret, phụ tá của Page về chính trị. Do sự thiếu quyết đoán của vua Tự Đức, Tôn Thất Cáp ngồi vào bàn hội nghị như kẻ làm vì, chẳng dám có một quyết định nào. Trong hơn một tháng, cuộc thương thuyết vẫn không có một chút tiến bộ. Ngày 29-1-1860, Page bực mình cắt đứt hòa hội, nhưng sau đó không đưa ra một hành động đe dọa quân sự nào. Không phải viên tư lệnh này hiếu hòa hơn Genouilly, mà chỉ vì bấy giờ tình hình của Pháp tại Trung Quốc căng thẳng trở lại, không cho phép Page vọng động khiến có thể vướng mắc rắc rối nhiều nơi.

Quả nhiên như vậy. Mặc dù hòa ước Thiên Tân được ký kết năm 1858, nhưng năm sau, cuộc xích mích giữa Trung Quốc và Anh, Pháp lại tái diễn. Vì vậy, Page được lệnh chỉ để lại một ít quân ở Sàigòn cho đại tá D’ Ariès phòng thủ, còn thì rút hết sang Biển Trung Quốc, đặt dưới sự chỉ huy của Đô đốc Charner, để đối phó với Tàu.

Page rời Sàigòn ngày 3-2-1860. Hơn một tháng sau, ngày 23-3, quân đội, tàu bè của đoàn quân viễn chinh còn đồn trú ở Đà Nẵng dưới quyền của đại tá Toyon (Thoyon) cũng được lệnh rời bỏ nơi này để tham chiến ở Trung Quốc. Trước khi triệt thóai, Toyon cho lệnh đốt phá hết thảy mọi công trình đã xây dựng ở bán đảo Tiên Sa.

Tính từ khi đoàn quân xâm lược của Rigault de Genouilly đến Đà Nẵng cho đến khi người lính viễn chinh cuối cùng của Page xuống tàu rời khỏi nơi này thì liên quân Pháp-Tây Ban Nha đã chiếm hữu tạm thời vùng đất hữu ngạn sông Hàn, khống chế vịnh Đà Nẵng và sông Hàn được tất cả một năm sáu tháng hai mươi hai ngày (1-9-1859 đến 23-3-1860). Thời gian đó quá ngắn trong chiều dài của lịch sử nhưng lại đầy dẫy những biến cố, mở đầu cho một thời kỳ vong quốc khá dài của Việt Nam cận đại.
Dấu vết của cuộc viễn chinh nay không còn gì, ngoại trừ một nghĩa địa nằm trơ trọi ở phía đông mũi Mõ Diều và đảo Cô, nơi an nghỉ ngàn năm nơi đất khách của những người Pháp và Tây Ban Nha từng đeo đuổi mộng xâm lăng.

Sau khi quân Pháp triệt thoái khỏi Đà Nẵng và chỉ còn để lại một ít ở Gia Định, vua Tự Đức đã hoan hỷ xuống chiếu cho thần dân như sau: “Lòng can đảm và sự hy sinh của tướng sĩ ta đã chiến thắng vẻ vang quân Tây dương. Nên lợi dụng những thắng lợi đó để làm cho quân địch vô phương, ngõ hầu đem lại thái bình và an ninh cho đất nước vì phúc lợi tối thượng của thần dân trung thành của Trẫm. Đó cũng là niềm mong mỏi thiết tha nhất của Trẫm.”

Nếu nhìn vào thực trạng của cuộc chiến với tương quan lực lượng giữa hai bên, người ta không khỏi mỉm cười khi nghe lời bố cáo nhuốm vẻ huênh hoang của vua Tự Đức. Nhưng thiết nghĩ những ca ngợi đó thật xứng đáng với sự hy sinh máu xương và gian khổ của hết thảy tướng sĩ và nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng lúc bấy giờ.

Tại mặt trận Đà Nẵng, không phải chỉ có quân đội chính qui chiến đấu mà còn có cả dân quân nữa. Việc xây đồn, đắp lũy, đào hào, tiếp tế . . . là phần vụ chính của dân quân .

Bên cạnh những chết chóc điêu linh do chiến chinh đem lại, trong thời gian đó xứ Quảng còn phải chịu một cơn hạn hán làm thiệt hại mùa màng không nhỏ. Tất cả những ấn tượng buồn thảm đó còn được ghi lại trong mấy câu hát sau đây:

Hạn sao quá hạn; cây cỏ tiêu điều.

Kể từ năm Mậu Ngũ (Mậu Ngọ, 1858) buồn hiu,

Nào Tây bắn Sơn Chà, nào dân binh bắt mộ.

Nạn tai ấy dân đen chưa hết khổ,

Kế năm nay thêm cỏ cháy ruộng cằn.

Lúa chút bồ, đem ra vãi văng văng,

Ngoài ruộng vẫn vắng tăm, không cọng rạ.

Từ tháng hai đến suốt qua mùa hạ,

Không hột nước trên nón lá dân cày.

Dưới đáy đìa, cá chết cạn phơi thây.

Trong thôn ấp tre xàu, cau đỏ ngọn.

---Ca dao Quảng-Đà---

 

 

Bruce Nguyen  - Sưu tầm

Theo LỊCH SỬ ĐÀ NẴNG - VÕ VĂT DẬT

 

Tin khác

Hỗ trợ trực tuyến
avt
Sales Manager

Mr. Thắng

0911141816

avt
Điều hành tour

Mr. Dũng

0972109501

avt
Vé máy bay

Ms. Diệu Trang

0974628921

Danh mục tour