Hotline

0911 141 816

du lịch Huế
Tour du lich pho co Hoi An
Cầu rồng Đà Nẵng
du lịch đà nẵng
tour du lich ba na
Tour du lịch Lào giá rẻ
tour sơn trà - phố cổ hội an 1 ngày

Trận Đà Nẵng 1858 - 1860: Chiến thắng lớn đầu tiên và duy nhất của nhà Nguyễn trước liên quân Pháp - Tây Ban Nha (Phần 1)

Trận Đà Nẵng 1858 - 1860: Chiến thắng lớn đầu tiên và duy nhất của nhà Nguyễn trước liên quân Pháp - Tây Ban Nha (Phần 1)

Do thấy được vị trí chiến lược của Đà Nẵng trong việc phòng thủ đất nước trước mưu đồ thôn tính của thực dân Tây phương, từ vua đầu triều Nguyễn - Vua Gia Long khởi xướng xây dựng cho đến ba đời vua con cháu nối nghiệp sau đó là Vua Minh Mạng, Vua Thiệu Trị, Vua Tự Đức tiếp tục mở rộng, củng cố thành Điện Hải và biến nơi đây trở thành một pháo đài hết sức kiên cố, một công trình quân sự vững chắc và chính yếu nhất của triều đình nhà Nguyễn nhằm bảo vệ cửa biển Đà Nẵng và là phên dậu từ xa cho kinh thành Huế.

Cuộc tấn công của liên quân Pháp-Tây Ban Nha tại Đà Nẵng từ 1858 đến 1860 bao gồm bốn giai đoạn. Mỗi giai đoạn đánh dấu một biến chuyển quân sự khác nhau.

1. GIAI ĐOẠN TẤN CÔNG MỞ MÀN (1-9-1858 - 2-2-1859)

Trận đánh mở đầu (1-9-1858)

Khởi hành từ cảng Yulikan ở cực nam đảo Hải Nam – cách Đà Nẵng chừng 180 dặm theo đường chim bay – vào lúc tinh mơ ngày 30-8-1858, đoàn tàu trận của liên quân Pháp -Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Rigault de Genouilly, bấy giờ là Phó Đô đốc (Vice-Admiral), đã đến vịnh Đà Nẵng vào chiều hôm đó.

Trận đà Nẵng 1858

Lực lượng viễn chinh gồm 14 tàu chiến, trong đó có chiếc El Cano của Tây Ban Nha chạy bằng hơi nước. Về phía Pháp có những tàu buồm lớn, như Némésis, Fusée. Dordogne, Plégeton, Mitraille, Alarme, Dragonne, Avalanche, Prigent, ... Quân số tổng cộng 2.000 người, trong đó phần Tây Ban Nha, gồm cả lính và sĩ quan có 450 người, đến từ Philippines. Trên soái thuyền Némésis, bên cạnh Genouilly có giám mục Pellerin đóng vai trò cố vấn chính trị và quân sự. Ông đã từ Pháp đến Hongkong vào tháng 8-1858 để nhập vào đoàn quân viễn chinh.

Sáng ngày 1-9-1858, Genouilly gởi một tối hậu thư cho viên Tấn thủ Đà Nẵng, bảo phải nộp tất cả thành trì và pháo đài phòng vệ cho Pháp, hạn trong hai giờ phải trả lời. Dĩ nhiên, không thể nào có phúc đáp từ phía Việt Nam, vì viên chức địa phương không đủ thẩm quyền để trả lời, còn Huế thì hai giờ ngắn ngủi, không thể nào liên lạc được. Kỳ hạn hết, Genouilly ra lệnh khai hỏa. Lập tức súng đại bác trên các tàu Pháp-Tây khạc đạn xối xả vào các vị trí quân sự của Việt Nam quanh vịnh Đà Nẵng, đặc biệt là hai thành An Hải và Điện Hải .

Sau nửa giờ pháo cường tập, vô hiệu hóa phần lớn sức kháng cự của các cơ sở phòng ngự, Genouilly ra lệnh đổ bộ. Đại tá Reynaud, tham mưu trưởng trong bộ chỉ huy viễn chinh, được lệnh dẫn các đại đội đổ bộ thuộc các tàu Némésis, Phlégeton, Primauguet, cùng một phân đội công binh chiến đấu lên bờ. Genouilly đi theo cánh quân này. Rời xuồng, quân Pháp kéo lên bờ phía hữu ngạn, chỉnh bị hàng ngũ theo đội hình tác chiến, và tiến đến các mục tiêu, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu “Hoàng đế vạn tuế ” (Vive l'Empereur!). Nhờ sự yểm trợ hữu hiệu bằng đại bác của các tàu Mitraille, Alarme và El Cano, các mục tiêu đã bị thanh toán nhanh chóng, mặc dầu sức kháng cự của quân Việt không phải là quá tệ. Thành An Hải cùng các pháo đài Phòng Hải, Trấn Dương, các Đồn Nhất, Nhì, Ba, Tư đều lần lượt lọt vào tay quân Pháp. Nói một cách khác, nội trong chiều ngày 1-9 quân Pháp đã làm chủ toàn vùng Tiên Sa. Khi ánh nắng chiều bớt thiêu đốt gay gắt, Genouilly cho quân trên các tàu tiếp tục đổ bộ, chiếm đóng các điểm then chốt. Thành An Hải do hai đại đội bộ binh Pháp và một nửa đại đội Tây Ban Nha trú đóng. Cạnh thành này, tại một nơi bằng phẳng dưới chân núi Sơn Trà, công binh được lệnh thiết lập cơ sở cho bộ chỉ huy và đây cũng là nơi đồn trú chính của đoàn quân viễn chinh.

Trận đánh ngày 2-9-1858 hay trận đánh thành Điện Hải

Đêm mồng 1 rạng ngày 2-9, đại tá Reynaud mở cuộc thăm dò vùng đất phía tây nam -- tức là vùng tả ngạn, từ thành Điện Hải ngược lên phía thượng lưu sông Hàn – để chuẩn bị cho cuộc tấn công ngày hôm sau.

Sáng ngày 2-9, tàu hơi nước El Cano và 5 tàu khác được lệnh tập trung hỏa lực vào thành Điện Hải, căn cứ chủ yếu của Đà Nẵng. Sau nửa giờ chịu đựng và gắng gượng bắn trả, thành bắt đầu nao núng. Thiếu tá Jauréguiberry được lệnh dẫn quân đổ bộ hãm thành và các đồn phụ thuộc. Chẳng mấy chốc toàn bộ hệ thống phòng thủ tả ngạn cũng chịu chung số phận của hữu ngạn ngày hôm trước. Sau khi cho quân phá hủy kho tàng, vũ khí, Jauréguiberry cùng đoàn quân đổ bộ xuống tàu rút về căn cứ Tiên Sa. Họ không dám chiếm đóng vì e dè một cuộc phản công mà họ chưa ước lượng được sức mạnh phải đương đầu. Sau trận Điện Hải, viên Tư lệnh Pháp điều tàu El Cano và Dragone rời vịnh Đà Nẵng ra phòng thủ vùng biển Mỹ Khê, đề phòng một cuộc đánh thốc vào mạn sườn phía đông của căn cứ Pháp. Như vậy, mới chỉ trong hai ngày đầu của tháng 9-1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha coi như đã làm chủ vùng Đà Nẵng.

Họ đã tịch thu 450 đại bác bằng đồng và gang, được xem là đẹp và tốt hơn loại đại bác của Trung Quốc mà họ đã tịch thu và phá hủy ở Quảng Đông. Ngoài ra, họ còn cầm tù hơn 100 binh sĩ và 3 viên quan võ Việt Nam.

Phản ứng của Triều đình Huế

Biến cố ở Đà Nẵng xảy ra chớp nhoáng, Triều đình Huế thảng thốt, gần như trở tay không kịp. Được tin quân Pháp gây hấn, vua Tự Đức lập tức sai Đào Trí cấp tốc vào Đà Nẵng hợp cùng Tổng đốc Nam-Ngãi là Trần Hoằng gọi ngay 200 lính đang nghỉ phép (lính hạ ban) về Đà Nẵng cứu ứng. Viện quân đến nơi thì Đà Nẵng coi như đã bị khống chế. Vua cách chức Tổng đốc Trần Hoằng, cho Đào Trí tạm thay (quyền nhiếp), rồi lại sai Hữu quân Đô thống Lê Đình Lý làm Thống chế, sai Tham tri Bộ Binh Phan Khắc Thận làm Tham tán Quân vụ (Tham mưu trưởng) đem 2.000 quân tinh nhuệ thuộc Vệ Cấm binh vào Đà Nẵng tiếp ứng. Thống chế Lý vượt Hải Vân, vào đặt bản doanh ở làng Nghi An thuộc huyện Hòa Vang. Bấy giờ, Đà Nẵng chia làm hai phòng tuyến rõ rệt (xem Phụ bản 15):

- Bên hữu ngạn, liên quân Pháp-Tây làm chủ bán đảo Tiên Sa và đặt căn cứ tại đấy. Ngược hữu ngạn, cách Tiên Sa khá xa, quân Việt còn làm chủ hai đồn Hóa Khuê và Mỹ Thị .

- Bên tả ngạn, thành Điện Hải không bị chiếm đóng nhưng thiệt hại lớn về quân lương và vũ khí. Ngoài ra, các đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, Nại Hiên cũng bị ảnh hưởng. Sau khi quân Pháp rút lui, quân Việt tái chiếm các cơ sở đó và củng cố trở lại.

Sau khi tạm thời làm chủ tình hình ở Đà Nẵng, Genouilly ra tuyên bố Pháp đã chiếm hữu hải cảng này, đặt vịnh Đà Nẵng và sông Hàn trong tình trạng phong tỏa. Sự chiếm hữu không có gì chắc chắn, vì quân Việt sẽ phản công, nhưng mục đích của Genouilly là nói lên và nói trước để tránh tình trạng tranh chấp có thể xảy ra với một đệ tam quốc gia nào đó sau này.

Sau khi lập được đầu cầu ở Tiên Sa, công binh được lệnh xây dựng các cơ sở cần thiết, như sở chỉ huy, bệnh viện, nhà kho, doanh trại, xây pháo đài, làm bến tàu, mở đường sá trong căn cứ v.v. dần dần biến mảnh đất hoang dã dưới chân núi Sơn Trà thành một thành phố nhỏ dã chiến của Pháp. Để có thể đổ quân dễ dàng tại những nơi địa thế không cho phép tiến quân bằng đường bộ, mà đường thủy thì tàu lớn không vào được, Jauréguiberry cho thực hiện gấp bốn xà lan bằng gỗ mang theo từ Singapore. Ngày 13-9-1858, Genouilly lại nhận thêm viện binh từ Manila do tàu Durance chở đến, gồm 550 người, cả lính và sĩ quan, do đại tá Lanzarote chỉ huy.

Ngày 6-10-1858, Jauréguiberry dẫn một đoàn tàu ngược sông Hàn, tấn công các cứ điểm phòng thủ của Việt Nam. Quân Pháp đổ bộ, phá lũy đất, nhổ rào đồn Mỹ Thị và công hãm đồn này. Thống chế Lê Đình Lý được tin, liền đem quân tiếp cứu, đánh nhau với quân Pháp ở làng Cẩm Lệ. Có thể nói đây là lần đầu tiên một lực lượng chính qui đông đảo của Việt Nam đối đầu trực diện với súng đạn tối tân và chiến thuật bộ binh của phương Tây. Họ gặp một hỏa lực mạnh mẽ của loại súng trường nạp hậu với nhịp bắn nhanh (so với thời đó) và chính xác, bỏ xa kiểu súng điểu thương cò máy đá, bắn đã chậm, lại trang bị thiếu thốn. Vì vậy, mặc dầu quân và tướng Việt Nam dũng cảm có thừa nhưng vẫn không đương đầu được. Thống chế Lê Đình Lý bị trúng đạn, thương thế rất trầm trọng. Cận vệ vội vã võng chủ tướng chạy về tỉnh Quảng Nam, quân sĩ thấy thế mất tinh thần, đoàn quân tan rã nhanh chóng.

Trong khi Thống chế Lý lâm nguy ở Cẩm Lệ thì viên chỉ huy (chức gọi là Phòng triệt) đồn Hóa Khuê ở gần đó là Hồ Đắc Tú, vì quá khiếp nhược, đã đóng chặt cửa đồn, không đem quân cứu ứng. Vị Thống chế anh dũng về dưỡng thương được vài hôm thì mất. Dầu sao, sự hy sinh của ông và một số binh sĩ dưới quyền cũng không đến nổi vô ích, vì đồn Mỹ Thị đã đứng vững. Quân Pháp không làm gì được, phải rút lui.

Tin dữ đưa về Kinh, vua Tự Đức vừa lo vừa giận. Lập tức Tham tri Lưu Lãng được lệnh đem cờ biển vào Đà Nẵng cách chức Phòng triệt đồn Hóa Khuê là Hồ Đắc Tú, xiềng tay chân, tống giam để điều tra. Mặt khác, Thống chế Tống Phước Minh được lệnh vào thay Thống chế Lý, làm tư lệnh mặt trận.

Nhưng rồi tình hình ngày một găng, vua Tự Đức không tin rằng Thống chế Minh có đủ mưu lược để đương đầu với quân Pháp, bèn cho ông ta xuống làm Đề đốc, cử Nguyễn Tri Phương làm Tổng thống Quân vụ Quảng Nam. Tổng đốc Định Tường và Biên Hòa là Phạm Thế Hiển được gọi gấp về Kinh để vào Đà Nẵng nhận chức Tham tán Quân vụ, phụ tá cho Nguyễn Tri Phương. Biến cố tại Đà Nẵng với những tin xấu liên tiếp đưa về Kinh khiến vua Tự Đức rất đổi lo âu. Vua thường đích thân hiểu dụ các tướng hữu trách về cách đóng đồn, cách điều quân, cách tấn công sao cho có hiệu quả, đồng thời cũng đưa ra những quyết định thưởng phạt nhanh chóng để khích lệ các tướng sĩ hăng say chiến đấu.

Tháng 11 năm 1858, quân Pháp lại cho tàu ngược sông Hàn, vào sông Nại Hiên mở cuộc tấn công lớn. Đào Trí và Nguyễn Duy cho quân sĩ mai phục ở bờ sông rồi bất thần đổ ra đánh. Nhờ vậy, đã gây được thiệt hại cho quân Pháp khiến chúng phải rút lui.

Ngày 21 và 22 tháng 12 năm đó, quân Pháp lại ngược sông Hàn theo chiến thuật cũ để đánh các đồn Nại Hiên và Hóa Khuê. Dưới sự chỉ huy của hai Hiệp quản can trường là Nguyễn Triều và Nguyễn An, quân Việt đã chống cự hết sức anh dũng. Chẳng may cả hai tướng đều bị trúng đạn, chết ngay tại trận, trước khi Đề đốc Minh kịp đem quân tới cứu ứng. Tuy nhiên, Đề đốc Minh đã ráng sức đẩy lui được quân Pháp khiến bọn này phải rút lui, bảo toàn được cả hai đồn. Sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Triều và Nguyễn An đã gây xúc động lớn cho vua Tự Đức. Vua than: “ Quân đã cô, cứu viện lại không có; một quan tướng đã khó tìm, huống chi chết đến hai; bọn tổng đốc (Nguyễn Tri Phương) không đau lòng sao ?”

Thế là từ quan tư lệnh họ Nguyễn cho đến các tướng dưới quyền đều bị giáng cấp. Riêng hai Hiệp quản được truy tặng phẩm hàm trọng thể. Rút kinh nghiệm từ trận Hóa Khuê và Nại Hiên (vấn đề thông tin liên lạc và cứu ứng chậm) Nguyễn Tri Phương cho đặt thêm các vọng lâu để quan sát động tĩnh của quân Pháp cũng như đặt thêm các toán tiền thám để báo động kịp thời hầu các đồn có thể tương trợ được nhau.

Bấy giờ, phòng tuyến hai bên tại Đà Nẵng có thể chia ra như sau:

- Phía quân Việt, tại tả ngạn có một loạt các đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, Nại Hiên, Nghi Xuân (mới đắp) và thành Điện Hải. Bên hữu ngạn, gần Ngũ Hành Sơn (Núi Non Nước) có hai đồn Hóa Khuê và Mỹ Thị. Tất cả hệ thống này nhằm mục đích ngăn chận quân Pháp tiến sâu vào nội địa chứ chưa có tác dụng phản công.

- Phía quân Pháp, họ làm chủ bán đảo Tiên Sa, vịnh Đà Nẵng và sông Hàn.

Sau các trận đánh nói trên, quân Pháp còn tiến đánh các đồn Hóa Khuê, Nại Hiên, Thạc Gián mấy lần nữa nhưng các tướng Tống Phước Minh, Nguyễn Duy, Phan Khắc Thận đã chỉ huy quân sĩ đẩy lui được. Cầm cự được như vậy là một khích lệ lớn lao đối với toàn thể tướng sĩ. Vua Tự Đức được tin cũng cảm thấy có phần lạc quan về tình hình hơn một đôi chút. Tuy thế, những người có trách nhiệm tại mặt trận vẫn cứ không được yên tâm.

Khoảng tháng 1 năm 1859, sau khi điều nghiên mặt trận, Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển đã cho lập thêm một đồn mới ở Liên Trì. Quân Pháp lại tấn công Thạc Gián và Nại Hiên nhưng bị phục binh Việt Nam đẩy lui. Đây không phải chiến thắng lớn nhưng ít ra cũng là dấu hiệu chứng tỏ khí thế và đởm lược của Nam quân không phải là quá yếu kém. Vua Tự Đức được tin vui, đã ban cho Tổng thống Phương một thanh ngự kiếm và sâm quế để ủy lạo và khích lệ. Sau vụ đắp đồn Liên Trì, Nguyễn Tri Phương lại cho đắp một lũy đất chạy từ thành Điện Hải bao quanh Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián. Bên ngoài lũy là hào sâu đào theo kiểu chữ “Phẩm” (品), dưới đáy cắm đầy chông tre, trên đậy bằng vĩ tre phủ đất và trồng cỏ ngụy trang. Sau lũy luôn luôn có quân mai phục, sẵn sàng nổ súng chống trả.

Hệ thống phòng thủ có vẻ thủ công này thực ra đã góp phần hữu hiệu trong việc ngăn chận bước tiến của liên quân Pháp-Tây và gây cho họ những tổn thất bất ngờ. Sau khi chiến lũy hoàn thành, quân Pháp lại ba mặt kéo đến tấn công. Họ không biết gì về hệ thống phòng thủ mới. Thế nên khi xung phong hãm đồn, lớp sa xuống hào, bị chông tre gây thương tích, lớp bị quân phục kích trong lũy bắn ra gây tổn thương, đành hậm hực kéo nhau xuống thuyền, rút về căn cứ. Để khích lệ tướng sĩ, vua Tự Đức ra lệnh xuất 100 quan tiền tưởng thưởng quan quân và ra lệnh cho tỉnh Quảng Nam đem trâu rượu ra chiến tuyến khao quân.

Những khó khăn của liên quân Pháp - Tây Ban Nha

Nếu Đà Nẵng là mối bận tâm của Triều đình Huế thì cuộc tiến chiếm vùng đất này cũng là khó khăn không nhỏ đối với đoàn quân viễn chinh, vượt ra ngoài tất cả mọi dự liệu lạc quan ban đầu của Paris cũng như của các thừa sai chủ chiến như Huc, Pellerin.

Thật vậy, ngay từ cuộc hành quân đầu tiên vào ngày 1-9-1858, Genouilly đã ghi nhận một tình trạng thời tiết tồi tệ với cái nóng thiêu đốt của miền nhiệt đới, làm cho quân sĩ dễ khát nước và chóng mệt mõi. Trong trận đánh mở màn tại bán đảo Tiên Sa, quân Việt đã không làm thiệt hại quân viễn chinh cho bằng thiên nhiên. Sau một ngày chiến đấu dưới ánh nắng gay gắt, một số quân đã bị say nắng, trở thành bất khiển dụng vào ngày hôm sau. Thật ra, năm 1858, tức năm Mậu Ngọ, là một năm thời tiết bất thường của Quảng Nam. Mùa hè đã kéo dài hơn thường lệ đến biến thành đại hạn; tiếp đến là một mùa mưa triền miên với những ngày tầm tã như “thác đổ lưng trời”. Nóng và ẩm đã làm cho các mầm bệnh truyền nhiễm như thổ tả, kiết lỵ, thương hàn dễ dàng phát triển trong hàng ngũ viễn chinh không quen khí hậu nhiệt đới. Các bệnh này đã gây thiệt hại cho Pháp-Tây gấp mấy lần gươm súng của quân Việt.

Mặt khác, những điều hứa hẹn do cố vấn chính trị và quân sự Pellerin đưa ra đã được thực tế chứng minh ngược lại: dân chúng, nhất là giáo dân, đã không hưởng ứng cuộc xâm lăng của Pháp như ông ta đã ước tính; không có đám dân chúng nào nhân cơ hội ngoại xâm để nổi loạn chống triều đình; không có dân bất mãn cung cấp tin tức cho quân viễn chinh.

Pellerin chủ trương rằng sau khi đánh chiếm Đà Nẵng, quân Pháp sẽ tấn công thẳng vào Huế là có thể hóa giải ngay mọi kháng cự, mọi bế tắc. Lý thuyết này nghe có vẻ hữu lý, vì Huế là đầu não của cả nước, nhưng tin tức về Huế quá mù mờ, dù bộ phận tình báo của Genouilly đã khai thác tin tức nơi cả trăm tù binh bị bắt ở Đà Nẵng. Viên tư lệnh Pháp lâm vào tình trạng lưỡng nan: muốn tiến quân ra Huế cũng khó lòng, vì đường sá xa xôi, thời tiết khắc nghiệt, dễ gì vượt qua cả một hệ thống đồn lũy liên tiếp từ Đà Nẵng đến Hải Vân. Còn tiến bằng đường thủy thì thuận lợi hơn nhưng lực lượng không thể tiếp cận kinh thành được vì tàu chiến của Pháp thuộc loại đáy sâu, không vào được lòng sông cạn dẫn đến kinh đô; vả chăng, cũng không có người hướng đạo. Giám mục Pellerin hứa với Genouilly sẽ có một hướng đạo lành nghề, vốn là con chiên của giám mục Retord ở Bắc kỳ, giúp việc dẫn đường cho quân viễn chinh. Genouilly phái tàu Primaguet ra Bắc, tiếp xúc với giám mục Retord để tiếp nhận người hướng đạo, nhưng không có kết quả vì ông này đã mất trên bước đường lẫn trốn lệnh cấm đạo. Tình trạng tiến thóai lưỡng nan này cộng thêm với những khó khăn khác của liên quân khi phải đương đầu với khí hậu khắc nghiệt, tình trạng dịch bệnh và sự đề kháng dũng cảm của quân Việt đã làm cho viên tư lệnh Pháp xuống tinh thần và ngày càng đổ quạu với ông cố vấn vì ông này cứ muốn xen vào việc chuyên môn của người khác. Cho đến một ngày kia, khi thấy không thể hợp tác với nhau được nữa, Pellerin đành giả từ Genouilly, về lại Hongkong vào tháng 12 năm 1858.

Trong phúc trình đề ngày 4-1-1859 viết tại bản doanh Đà Nẵng, gởi cho Thượng thư Bộ Hải quân ở Paris, tướng Genouilly đã nói lên tất cả nỗi thất vọng ê chề của ông ta trong cuộc xâm lăng này:

“. . . Quả thật tôi cần và hết sức đau đớn xác nhận với Ngài về tình trạng đáng phàn nàn về sức khỏe tổng quát. Thiếu tá Lévêque, đại úy hải quân Virot và phó kỹ sư Delautel đi Macao để dưỡng bệnh và chắc chắn phải đưa về Pháp. Tôi không biết phải đối phó thế nào với các lỗ hổng đó. Mỗi ngày lại có nhiều người chết và thời tiết xấu, mà các nhà truyền giáo bảo phải chấm dứt ngày 1 tháng 12, vẫn tiếp tục không thể tưởng tượng nổi. Chỉ nội với sự kiện đó, Ngài cũng có thể phê phán về giá trị các tin tức của họ và lòng tin tưởng của tôi có thể có đối với họ. . . Dù thế nào đi nữa, thưa Ngài Thượng thư, chúng ta cũng đang đi xuống dốc đến chỗ kiệt quệ, cho đến lúc phải bất động tại Đà Nẵng. Mọi phương tiện để cải thiện tình trạng bộ binh và hải quân đều hết sạch và vô hiệu. Các y sĩ trứớc tình trạng bệnh tật đã kết luận là người Âu đừng làm việc gì trong khí hậu này, nhưng làm sao được, khi ở đây phải làm những gì cần thiết cho việc phòng vệ, xây cất bệnh viện, lều trại v.v. Đó là một cái vòng lẩn quẩn làm chúng ta điên đầu.”

Qua đến trung tuần tháng 1-1859 thì tình trạng bệnh tật gia tăng khủng khiếp. Bệnh binh, chứ không phải thương binh, tràn ngập bệnh viện, do sự hoành hành của dịch kiết lỵ. Trong số 880 bộ binh, chỉ còn lại chừng 500 là cầm súng được. Do đó, quân Pháp chỉ còn lo phòng thủ chứ không thể nào mở được những cuộc tấn công như họ muốn. Genouilly lại gởi tiếp hai báo cáo nữa (15-1 và 29-1-1859), giọng điệu không có chút nhuệ khí nào:

“Bệnh kiết lỵ lan tràn, làm suy yếu tất cả những ai nó không giết được.

“Chính phủ đã bị lừa dối về bản chất cuộc viễn chinh ở Việt Nam ... Người ta đã báo cáo cho chính phủ những tài nguyên không có, những khuynh hướng của dân chúng hoàn toàn trái ngược với thực tế, người ta báo cáo rằng uy quyền của giới quan lại đã suy yếu thì quyền uy ấy vẫn còn mạnh mẽ lắm, rằng quân đội vắng bóng thì quân chính qui lại rất đông đảo và dân quân gồm những trai tráng mạnh khỏe trong dân chúng. Người ta đã tán dương khí hậu tốt lành ... Chỉ cần nhìn khuôn mặt xanh xao hốc hác của các thừa sai đến từ các nơi khác nhau trong xứ cũng đủ biết chắc rằng Đà Nẵng không tốt hơn Hongkong và Hongkong đáng được kể là một nơi độc địa. Đọc lại bản phúc trình của Uỷ ban Hỗn hợp họp ở Bộ Ngoại Giao, người ta tin rằng vấn đề đã được xoay quanh những thảo luận sai lầm, rằng người ta đã cho vào bóng tối những khó khăn của thực tế.”

Những báo cáo của Genouilly gởi về Paris phản ảnh sự thật bi đát một cách đầy hậu ý. Ông muốn cung cấp những thông tin trung thực để gián tiếp thuyết phục thượng cấp chấp thuận kế hoạch mới của ông. Số là sau khi cân nhắc, viên tư lệnh Pháp thấy rằng chưa phải lúc để tấn công Huế, vậy nên phải chuyển hướng mục tiêu để giải quyết tình trạng bế tắc ở Đà Nẵng. Trong phúc trình ngày 3-2-1858 gởi Thượng thư Bộ Hải Quân, Genouilly cho biết ông đã có quyết định dứt khoát: trong khi chờ đợi một thời tiết thuận lợi hơn vào tháng 3 hay đầu tháng 4, đồng thời có thì giờ tập trung đầy đủ lực lượng, tiếp liệu và phương tiện để mở cuộc tấn công Huế, thì đoàn quân viễn chinh sẽ đánh Sàigòn, vì “một cuộc tấn công vào Sàigòn sẽ có một hiệu quả hữu ích trước tiên đối với chính quyền An-Nam.” Ngoài ra, theo quan điểm của Genouilly, cuộc tiến chiếm mục tiêu mới này bảo đảm một thành công chắc chắn về mặt quân sự do những thuận lợi về thiên thời (cuộc tiến quân thuận mùa gió) và địa lợi (sông sâu và rộng, nằm sát thành, tiện cho hạm đội tiếp cận và hoạt động), đó là chưa kể Sàigòn có một hậu thuẩn kinh tế vững vàng, một tương lai trù phú. Chiếm Sàigòn, sẽ tạo được ảnh hưởng ở Cao-Miên (Cambodia) và Xiêm (Thailand).

Do đó, ngày 2-2-1859, Rigault de Genouilly rời Đà Nẵng, tiến về Nam, mang theo một lực lượng 2176 lính và sĩ quan, gồm cả Pháp và Tây Ban Nha, cùng 9 tàu chiến của Pháp, một tàu chiến của Tây Ban Nha và 4 thương thuyền chở quân dụng. Hải quân đại tá Faucon được lệnh ở lại cùng mấy trăm quân cố thủ căn cứ, chờ ngày trở lại trong thuận lợi của quân chủ lực.

 

2. GIAI ĐOẠN CẦM CỰ CỦA ĐẠI TÁ FAUCON ( TỪ 2-2 ĐẾN 15-4-1859)

Lợi dụng thời gian đại bộ phận quân Pháp vắng mặt, Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển ra sức củng cố lại phòng tuyến, nhất là thành Điện Hải, căn cứ chủ lực đã bị hư hại khá nhiều, đồng thời cũng mở ra những cuộc đột kích, chỉ có hiệu quả quấy rối hơn là gây thiệt hại lớn.

Về phía Faucon, tuy quân số ít ỏi nhưng ông ta đâu phải ngồi yên chịu trận. Chỉ 4 ngày sau khi Genouilly kéo quân vào Sàigòn (6-2-59), Faucon đem quân đánh đồn Hải châu[8] nhưng bị Thị vệ Hồ Oai cùng các tướng Tôn Thất Thi, Nguyễn Nghĩa chỉ huy quân sĩ đẩy lui, sau khi bắn chìm được ba giang thuyền của Pháp. Hôm sau (7-2), Faucon lại kéo quân phục hận. Đồn Hải Châu lần này bị tấn công ba mặt cùng một lúc với mức độ dữ dội hơn hôm qua. Hai Hiệp quản Nguyễn Tình Lương và Lê Văn Đa bị trúng đạn, chết tại trận, quân sĩ mất tinh thần, hàng ngũ rối loạn, Đề đốc Tống Phước Minh liệu thế giữ không nổi, rút quân về giữ đồn Phước Ninh. Nhờ Nguyễn Duy đem quân tăng viện kịp thời nên đã đẩy lui được quân Pháp và thu hồi lại đồn Hải Châu. Trong trận này, non 1.000 chiến sĩ hy sinh mới giữ vững được phòng tuyến. Xem đó, có thể thấy được lực lượng của Faucon tuy quân số ít nhưng nhờ hỏa lực mạnh nên đã dễ dàng áp đảo và gây thương vong lớn cho phía Việt Nam.

Đến tháng 3-1859, Faucon lại mở cuộc tấn công khác vào Hải Châu và Thạc Gián. Đào Trí và Tôn Thất Hàn ra sức đốc chiến nên Hải Châu không hề hấn gì. Còn đồn Thạc Gián cũng nhờ sự chỉ huy can trường của Phó Vệ úy Phan Gia Vịnh nên vẫn đứng vững. Thấy không làm gì được quân Việt, Faucon đành rút lui giữ thế thủ, chờ ngày trở lại của Genouilly.

 

Cick vào đây để xem tiếp phần 2)

Bruce Nguyen - Sưu tầm

Theo LỊCH SỬ ĐÀ NẴNG - VÕ VĂT DẬT

 

Tin khác

Hỗ trợ trực tuyến
avt
Sales Manager

Mr. Thắng

0911141816

avt
Điều hành tour

Mr. Dũng

0972109501

avt
Vé máy bay

Ms. Diệu Trang

0974628921

avt
Sales And Marketing

Hoàng Thị Liên

0935396448

Danh mục tour